Bạn chưa phải là Thành viên? Nhấp vào đây để đăng kí.
Bạn quên mật khẩu? Yêu cầu mật khẩu mới ở đây.
|
Bạn có thể tra cứu các thuật ngữ Toán học từ MathWorld bằng cách nhập từ khóa vào bên dưới |
Bạn có thể tra cứu các thuật ngữ Toán học qua Wikipedia bằng cách nhập từ khóa vào bên dưới
 |
Đọc tin bằng  Blog hay website của bạn sẽ được cập nhật tin tức từ MathVn.org. Xin vào đây để biết thêm chi tiết. |
Bạn có thể tìm kiếm và tải về tại thư viện Колхоз với gần 270.000 đầu sách điện tử và các thư viện khác. Tài khoản của trang này tham khảo ở đây

|
· Khách: 8
· Thành viên: 0
· Tổng số Thành viên: 1,476
· Thành viên mới: dinhvantam
|
|
Thông Báo I
Chào mừng bạn đến với Cộng đồng MathVn. Mục tiêu của cộng đồng là xây dựng môi trường trao đổi học thuật Toán học có chất lượng, định hướng sinh viên ngành Toán đến với con đường nghiên cứu khoa học. Diễn đàn mở cho mọi đối tượng: Học sinh, Sinh viên, Nghiên cứu sinh, Giáo viên, Giảng viên... Thành viên mới xin đọc kĩ Nội quy Cộng đồng MathVn và Hướng dẫn sử dụng TeX để soạn thảo công thức Toán trên Diễn đàn
Thông Báo II
Tạp chí Toán học cho sinh viên MathVn Số 03 đã phát hành phiên bản điện tử. Thân mời các bạn học sinh, sinh viên và các bạn yêu Toán đón đọc. Mọi ý kiến, đóng góp xin gửi về địa chỉ e-mail mathvn2008@googlemail.com. Thông tin chi tiết xin xem ở đây.
Thông Báo III
Tháng Ba được chọn là Tháng "Phương trình Đạo hàm riêng". Mong các thành viên Diễn đàn ủng hộ.
|
|
|
Các chủ đề hoạt động mới nhất |
|
|
Norbert Wiener: từ thần đồng đến nhà khoa học vĩ đại |
|
Norbert Wiener sinh ngày 26-11-1894 tại Columbia, Missouri, Hoa Kỳ. Ông là nhà toán học nổi tiếng trên cả phương diện toán học thuần túy và toán học ứng dụng, được coi là cha đẻ của ngành Điều khiển học, là người tiên phong nghiên cứu về quá trình ngẫu nhiên và quá trình ồn (noise).
Cha của ông là Leo Wiener, một giáo sư ngôn ngữ người Nga Do Thái là người sớm nhận ra khả năng thiên bẩm của con trai và đã hướng cho ông một nền tảng tốt về giáo dục. Mẹ ông là một người Đức Do Thái, ông đã từng nói về mẹ của mình như là "một người phụ nữ nhỏ bé, khỏe mạnh, mạnh mẽ và sôi nổi". Ông được cha mẹ giáo dục tại nhà cho đến năm 1903 (một phương pháp giáo dục quen thuộc của người Do Thái cho con trẻ nhằm khơi gợi phát hiện năng khiếu của chúng). Ông trở thành một thần đồng nổi tiếng chính là do sự hướng dẫn của người cha vốn là một giảng viên ngôn ngữ những lại là một người học rộng và có hẳn cho mình một thư viện riêng. Leo cũng là một người có khả năng về Toán học và ông truyền đạt một số kiến thức về Toán cho con trai của mình ngay từ thủa ấu thơ... |
|
Ăn hết bỏng ngô chưa? Chỗ ngồi bạn tốt chứ? Bạn ngồi có thoải mái không? Hãy bắt đầu xem nhé... Toán học hân hạnh giới thiệu... Tất cả chúng ta điều ngạc nhiên bởi những hình ảnh vi tính giống thực đến mức không thể tin được trong những bộ phim. Nhưng hầu hết chúng ta không nhận ra rằng những con khủng long trong Công viên kỷ Jura và những kì quan của Chúa tể của những chiếc nhẫn - đặc biệt nhất là nhân vật Gollum - sẽ không thể có được nếu không có Toán học. Những hình ảnh đáng kinh ngạc này được làm ra như thế nào? Đồ họa vi tính và tầm nhìn máy tính là những vấn đề rất lớn. Trong bài viết này, chúng ta sẽ có một cái nhìn đơn giản vào vài yếu tố toán học cần dùng để đi đến sản phẩm cuối cùng. Đầu tiên, chúng ta xây dựng một thế giới được thấy trong phim, và sau đó mang chúng ra đời thực. Dựng cảnh Hình 1. Mô hình chủ thể đầu tiên như một khung dây được làm từ những đa giác đơn giản ví dụ như tam giác.
Bước thứ nhất trong việc làm một bộ phim vi tính là tạo ra những nhân vật trong truyện và thế giới chúng sống. Mỗi đối tượng được làm mô hình như một bề mặt phủ bởi các đa giác liên kết với nhau (thường là tam giác). Các đỉnh của mỗi tam giác được lưu trong bộ nhớ máy tính. Biết mặt nào của tam giác nằm ngoài bề mặt vật thể hay nhân vật cũng rất quan trọng. Thông tin này được mã hóa bằng thứ tự các đỉnh được lưu vào, theo quy tắc đinh ốc (quy tắc nắm tay phải): Khum các ngón tay của bàn tay phải vòng quanh tam giác theo chiều được quy định bởi các đỉnh. Chỉ có một cách duy nhất để làm điều này và ngón tay phải sẽ chỉ về một phía của tam giác - phía đó là phía ngoài. Nếu bạn thử với một ví dụ, bạn sẽ thấy chiều hướng ra ngoài (pháp tuyến ngoài) của tam giác sẽ ngược chiều với của tam giác .
|
|
|
Nhà Toán học Xô-viết Aleksandr Yakovlevich Khinchin |
|
Aleksandr Yakovlevich Khinchin sinh ngày 19-7-1894 tại Kondrovo, thuộc tỉnh Kaluga của nước Nga, qua đời ngày 18-11-1959 tại Moscow. Ông là nhà Toán học nổi tiếng người Nga nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực: lý thuyết hàm, lý thuyết số, lý thuyết thông tin và đặc biệt là lý thuyết Xác suất, Thống kê toán học, lý thuyết Hàng đợi (lý thuyết Phục vụ đám đông) và Vật lý thống kê.
Cha của Khinchin là một kĩ sư điều này ảnh hưởng đến quyết định ông vào học ở một trường trung cấp kĩ thuật ở Moscow. Ở đó ông bắt đầu niềm đam mê môn Toán. Tuy thế Toán học không phải là một mối quan tâm duy nhất, ông còn rất yêu thích làm thơ và nhạc kịch. Ông hoàn tất bậc trung học vào năm 1911 và đậu vào khoa Vật Lý và Toán học của Đại học Tổng hợp Moscow danh tiếng... |
|
|
Dennis P. Sullivan và Shing-Tung Yau nhận giải thưởng Wolf 2010 |
|
Hai nhà toán học Dennis P. Sullivan (City University of New York) and Shing-Tung Yau (Harvard University) vừa được lựa chọn đẻ trao giải Wolf Prize 2010.
Sullivan, với những hiểu biết sâu sắc cho sự vận dụng công cụ hình học, ông đã đóng góp nhiều vấn đề nền tảng trong Toán học, bao gồm cả lý thuyết đồng luân, hệ động học, và string topology thấp chiều. Được biết đến nhiều kết quả quan trọng biểu hiện cho tầm nhìn của ông về toán học, Sullivan là nhân tố chính cho sự phát triển sôi động của khu vực nghiên cứu về lý thuyết hệ động lực học bảo giác, string topology. Ông đã nhận được giải Veblen (AMS) năm 1971 và giải Steele cho thành tựu trọn đời vào năm 2006...
|
|
|
Olympic Toán Sinh viên Quốc Tế - IMC 2009 |
|

Năm nay cuộc thi Olympic Toán học sinh viên Thế giới (IMC) được tổ chức tại thủ đô Budapest, Hungary từ ngày 25-30 tháng 07 dưới sự phối hợp giữa Đại học London (Anh Quốc) và Đại học Eötvös Loránd, Đại học Công nghệ và Kinh tế Budapest. Cuộc thi có sự tham gia của các sinh viên từ năm 1 đến năm 4 các trường đại học trên toàn thế giới, được chia làm hai vòng, mỗi vòng có thời gian làm bài là 5 tiếng đồng hồ. Các bài toán được đề nghị thuộc lĩnh vực Đại số, Giải tích (thực và phức), Hình học và Tổ hợp. Các thí sinh phải sử dụng tiếng anh trong bài thi của mình. Được biết trong suốt các kỳ thi IMC được tổ chức từ năm 1994 đã thu hút sinh viên của hơn 150 trường đại học từ 40 quốc gia trên toàn thế giới tham dự. Đoàn Việt Nam do GS. TSKH Nguyễn Văn Mậu làm trưởng đoàn.
Năm nay đề thi được đánh giá hay và khó, hai bạn có số điểm cao nhất:
Alexander Efimov, MSU, 77 điểm Jakub Konieczny, Jagiellonian University, 77 điểm
|
|
|
Toán học của kiến trúc hiện đại |
|
 Theo Marianne Freiberger, Tạp chí Plus. Bản dịch cung cấp bởi Dương Tấn Vũ
Kiến trúc trong quá khứ đã làm nhiều thứ tuyệt vời cho hình học. Cùng với nhu cầu đo đạt đất đai, nhu cầu xây dựng nhà cửa của con người đã làm tiên phong khám phá lý thuyết của các mẫu và hình dạng. Nhưng ngày nay, 4500 năm sau khi kim tự tháp vĩ đại được xây ở Ai Cập, Toán học đã làm gì cho Kiến trúc? Ở hội nghị Bridges năm ngoái (hội nghị khám phá mối liên hệ giữa toán học, mỹ thuật và thiết kế), Tạp chí Math Plus có một cuộc gặp gỡ với 2 kiến trúc sư trong nhóm chuyên viên mô hình hóa của Foster + Partners - Brady Peters và Xavier De Kestelier, để có một cái nhìn toán học về công việc của họ.

|
|
|
Giải thưởng Abel 2009 được trao cho Giáo sư M.L Gromov |
|
Giải thường Abel 2009 được trao cho Mikhail Leonidovich Gromov, giáo sư thường trực, Viện Hautes Études Scientifiques (Pháp) và giáo sư Viện Toán Courant, ĐH New York, ông được vinh danh vì những đóng góp mang tính cách mạng cho hình học. Giải thưởng này trị giá 6 triệu Kroner Thụy Điển (tương đương với gần 950.000 USD).
Tên tuổi của Gromov mãi mãi gắn liền với những kết quả sâu sắc và những khái niệm quan trọng đối với hình học Riemann, Symplectic Geometry, String Theory và lý thuyết nhóm. Hội đồng của giải thưởng đã nhận xét rằng "Mikhail Gromov luôn luôn theo đuổi các vấn đề mới và không ngừng suy nghĩ về những ý tưởng mới cho các lời giải của những vấn đề cũ. Ông đã cho chúng ta thấy những ông trình sâu sắc trong suốt sự nghiệp của mình và những sự sáng tạo đáng chú ý. Các công trình của Gromov sẽ tiếp tục là nguồn cảm hứng cho nhiều khám phá toán học trong tương lai. |
|
|
Combinatorial Design Theory |
|
 Combinatorial Design Theory - VnKvant
Thiết kế Tổ hợp hay Combinatorial Design Theory là một chuyên ngành thú vị của Tổ hợp đang đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong những năm rất gần đây với ứng dụng vô cùng phong phú, có liên hệ lý thuyết sâu với các ngành toán học khác. Một số ý tưởng của nó có lẽ đã có từ thế kỷ 19 trong các công trình của Euler, Kirkman, Caley, Hamilton, Sylvester, Moore nhưng mãi cho đến thế kỷ 20 nó mới là một chủ đề mang tính hàn lâm. Vào những năm 1920, Fisher và những đồng nghiệp của ông bắt đầu phát triển lý thuyết toán học của Thiết kế thực nghiệm, và nó đã được khai sinh với nội dung liên hệ chặt chẽ với ứng dụng thực tế của nó. Vào năm 1930, các nhà toán học đã bắt đầu phát triển nền tảng của nó trên cơ sỏ của Hình học hữu hạn, Lý thuyết Số, Trường hữu han và lý thuyết nhóm. Trong đó công đầu thuộc về Bose, ông lấy đã gắn kết cơ sở Toán học hiện đại với những ứng dụng trong thiết kế thực nghiệm và các bài toán giải trí và đã tiên đoán trước tầm quan trọng của nó trong lý thuyết sửa lỗi mã. Sự phát triển nhanh chóng của Lý thuyết Thiết kế hiện nay chính là do nó thúc đẩy các ngành khoa học ứng dụng từ những ứng dụng của nó đối với lý thuyết mã hóa và thông tin và cũng là do những tương tác, liên hệ qua lại với Hình học, Đại số, Lý thuyết Số hiện đại. Cuối những năm 1950 Thiết kế Tổ hợp đã bắt đầu có chỗ đứng, có nhiều công trình đáng chú ý mang tính nền tảng về Ma trận Hadamard, Thiết kế được cân bằng từng đôi, Thiết kế khối không đầy đủ được cân bằng , Mảng trực giao... Những năm gần đây nó là một chủ đề nóng hổi, có thể nói đến sự ứng dụng lý thuyết của nó trong lý thuyết Mật mã, Tối ưu thông tin, Lưu trữ hệ thống thiết kế, Giao thức tổ hợp, Thiết kế và phân tích Giải thuật, công nghệ thông tin không dây...
Các công cụ mà Lý thuyết Thiết kế Tổ hợp sử dụng là: Đại số Tuyến tính, Lý thuyết nhóm, vành, trường, Lý thuyết Số cũng như Lý thuyết Tổ hợp. Có thể nói các khái niệm trong lý thuyết này là khá dễ tiếp cận tuy nhiên kiến thức và kỹ năng cho nó rất đa dạng đỏi hỏi người học phải có tư duy khéo léo...
Một số định nghĩa cơ bản mang tính mở đầu:
-Thiết kế (design): Đó là một cặp trong đó là một tập hợp với các phần tử gọi là điểm, là một họ có lặp các tập con không rỗng của gọi là các khối (block) (nếu họ không chứa khối lặp thì gọi là thiết kế đơn)
- Thiết kế khối không đầy đủ được cân bằng (balanced incomplete block design- viết tắt là BIBD): Thiết kế gọi là một với các số nguyên dương , nếu nó thỏa mãn: i/  ii/ Mỗi khối chứa đúng k điểm (thiết kế khối không đầy đủ do k<v) iii/ Mỗi cặp điểm phân biệt được chứng trong đúng khối. (tính cân bằng)
Thí dụ:

. |
|
 Công thức Itô - NguyenNgoc
Tin buồn đối với những ai yêu toán và đặc biệt là những nhà lí thuyết xác xuất khi Kiyoshi Itô, một trong những người hàng đầu trong lĩnh vực giải tích ngẫu nhiên qua đời vào ngày 10-11 vừa qua. Những nghiên cứu chính của ông chủ yếu liên quan đến chuyển động Brownian, phương trình vi phân ngẫu nhiên và phương trình khuyết tán và được ứng dụng hết sức rộng rãi trong các lĩnh vực sinh học, điện kỹ thuật, phản ứng hóa học, vật lí lượng tử... Ông đã từng nhận các giải thưởng danh giá như Wolf Prize (1987), the Kyoto Prize (1998), và the Gauss Prize (2006).
Thật tình cờ, ngày bắt đầu biết mặt nhà toán học Itô cũng chính là ngày mà ông mất. Một bài viết như một nén nhan viếng nhà toán học tài năng. Bài viết nói về công thức mang tên ông.
Để đi đến công thức Itô mình xin nói qua đôi chút về quá trình ngẫu nhiên và chuyển động brownian. Bài viết có tham khảo bài giảng của GS Dương Minh Đức và bài giảng Lawrence C. Evans khoa toán đại học Berkeley.
Địnhnghĩa 1. Cho(Ω, F, P) là một không gian xác suất, đặt X là tập hợp tất cả các biến số ngẫu nhiên. Cho I là một khoảng trong tập các số thực, T là một ánh xạ từ I vào X. Đặt với mọi t thuộc I. Ta nói là một tiến trình ngẫu nhiên... |
|
|
Cha đẻ của lý thuyết Phạm trù |
|
 Đó là Saunders Mac Lane, nhà Toán học Hoa kỳ. ông sinh 4-8-1909 tại Taftville, Connecticut, mất năm 14-4-2005 tại San Francisco . Ông là một tên tuổi Toán học lớn của thế kỷ XX
 |
Mac Lane lấy bằng BA tại ĐH Yale năm 1930 và MA ở ĐH Chicago năm 1931. Tiếp đó theo học ở ĐH Göttingen từ 1931–1933 về logic và toán dưới sự hướng dẫn của Paul Bernays, Emmy Noether, Hermann Weyl. Viện Toán Göttingen phong ông chức danh Ph.D năm 1934...
Ông nguyên là là phó chủ tịch của viện hàm lâm khoa học quốc gia Hoa Kỳ, Hội Triết học Hoa và là chủ tịch của Hội Toán học Hoa Kỳ. ông được nhân huân chương Khoa học Quốc gia (National Medal of Science) năm 1989... |
|
|
|
|
Bạn cần phải đăng nhập để gửi comment.
|
|