Hẳn chúng ta những ai học và làm toán đều biết đến tên tuổi của ông như là một trong những tượng đài vĩ đài của toán học thế kỉ 20.
Israil Moiseevic Gelfand là một trong những nhà toán học có ảnh hưởng nhất của thế kỉ 20 đã qua đời vào ngày 5.10.2009 tại Highland Park, New Jersey(USA) ở độ tuổi 96. Ông là tác giả của hơn 800 bài báo và 30 cuốn sách trong nhiều lĩnh vực khác nhau của toán học-including commutative normed rings, representation theory, generalized functions, and partial differential equations--and in theoretical biology. I.M. Gelfand sinh ra tại Ukraine và nhận được bằng Ph.d vào năm 1935 tại đại học tổng hợp Matcova(MSU) dưới sự hướng dẫn của nhà toán học Andrei Kolmogorov, 5 năm sau ông trở thành D.Sc cũng tại MSU. Ông trở thành GS của đại học MSU từ năm 1941 cho đến năm 1990 để rồi sau đó ông chuyển đến giảng dạy tại đại học Rutgers. Trong sự nghiệp nghiên cứu toán của mình I.M. Gelfand đã nhận vô số các giải thưởng cao quí như giải thưởng nhà nước của Liên Xô(1953), giải thưởng Lênin (1956), giải thưởng Wolf (1978), giải Kyoto (1989), và một học bổng MacArthur (1994)). Đặt biệt vào năm 2005 ông đã được AMS trao tặng giải thưởng Steele cho những đóng góp to lớn của ông đối với toán học(xem thêm về giải thưởng này tại (http://ams.org/no...steele.pdf).
Một số kết quả mang tên của ông theo Wiki
* the Gelfand representation in Banach algebra theory;
* the Gelfand–Mazur theorem in Banach algebra theory;
* the Gelfand–Naimark theorem;
* the Gelfand–Naimark–Segal construction;
* the Gelfand–Pettis integral;
* the representation theory of the complex classical Lie groups;
* contributions to the theory of Verma modules in the representation theory of semisimple Lie algebras (with I.N. Bernstein and S.I. Gelfand);
* contributions to distribution theory and measures on infinite-dimensional spaces[5];
* the first observation of the connection of automorphic forms with representations (with Sergei Fomin);
* conjectures about the index theorem;
* Ordinary differential equations (Gelfand–Levitan theory);
* work on calculus of variations and soliton theory (Gelfand–Dikii equations);
* contributions to the philosophy of cusp forms;
* Gelfand–Fuks cohomology of foliations;
* Gelfand–Kirillov dimension;
* integral geometry;
* combinatorial definition of the Pontryagin class;
* Coxeter functors;
* generalised hypergeometric series;
Hi vọng có anh chị hay thầy cô nào có thêm thông tin chia sẻ.
Chỉnh sửa bởi deva lúc 07-10-2009 15:05
meochuot
Tôi trích đăng lời chia sẻ của nhà toán học Nga A.Vershik. Các comments khác có thể xem thêm trên www.mccme.ru
Israel Moiseevic Gelfand là một kỷ nguyên của khoa học nước nhà và của toàn thế giới. Sẽ có nhiều cuốn sách viết về ông. Tôi hạnh phúc là số phận đã cho tôi cơ hội được làm việc một thời gian dài với ông và tôi coi ông là một trong những người thầy chính của mình (hàm thụ, như ông vẫn thường đùa).
Tôi muốn nhất mạnh hai đặc điểm chính của I.M. như một nhà bác học: thứ nhất, đó là một trực quan rất hiếm, rất ấn tượng, một cách nhìn sâu sắc và khả năng đoán biết và nhìn ra trước cần phải làm gì; đặc điểm này thể hiện trong cả các hoạt động toán học lẫn trong quan hệ với các nhà toán học. Thứ hai, độ rộng và sức mạnh của suy nghĩ kết hợp với cảm xúc về cái đẹp. Kỷ nguyên Gelfand đã đi qua, nhưng nó sẽ vẫn còn tồn tại trong các thế hệ tiếp sau.
А.Вершик на сайте Полит.Ру (06.10.2009):
«Израиль Моисеевич Гельфанд — это эпоха в отечественной и мировой науке. О нем будут написаны книги. Я счастлив, что судьба доставила мне возможность долгое время работать с ним и считаю его одним из основных своих учителей (заочным, как шутил он). <...>
Я бы отметил две самых главных черты И.М. как ученого: первая — это редкая, потрясающая интуиция, обостренное зрение и умение угадать или предвидеть, что нужно делать; это черта проявлялась у него и в профессиональных занятиях математикой и в отношении к математикам. Второе — широта и сила мысли в сочетании с эстетическим чувством. Эпоха Гельфанда ушла, но он существует в следующих поколениях. »
Ksipizeta
Thật là thú vị khi biết nhà toán học khổng lồ như Gelfand chưa từng học hết phổ thông, chưa từng là sinh viên đại học. Ông chỉ có niềm đam mê và đã theo đuổi nó trở thành nhà Toán học. Hết sức khâm phục
Theo Nguyễn Việt Dũng (Viện Toán)
Giáo sư I.M. Gelfand, một trong những người khổng lồ của toán học thế kỷ 20 đã qua đời, hôm thứ hai, 5/10/2009, tại bệnh viện của Trường đại học Robert Wood Johnson, bang New Jersey, Hoa kỳ ở tuổi 96. Ông là tác giả của hơn 800 bài báo, 30 cuốn sách trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau như vành định chuẩn giao hoán, lý thuyết biểu diễn, lý thuyết các hàm siêu hình học, phương trình đạo hàm riêng, … và cả trong sinh học lý thuyết. Các công trình của ông đã mở đường cho các nhà tư tưởng khác trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau, từ vật lý đến xử lý ảnh y học.
Gelfand không đạt tới vinh quang bằng cách tấn công vào các bài toán nổi tiếng, hóc búa. Thay vào đó, ông là người tiên phong trong những lĩnh vực còn hoang sơ, đặt nền móng cho nó, sáng tạo ra các công cụ cho người khác sử dụng.
Người ta thường so sánh ông với các nhà toán học vĩ đại như Euler, Hilbert hay Poincaré. V.I. Arnold thường đối lập cách làm toán của Gelfand với Andrei Kolmorogov (thày của Gelfand) như sau: “Giả sử cả hai người cùng đi đến một miền đất hoang vu đầy núi. Kolmogorov sẽ ngay lập tức trèo lên đỉnh núi cao nhất, trong khi Gelfand sẽ bắt tay vào việc làm đường”.
Nhận xét về ảnh hưởng của công việc của Gelfand trong các lĩnh vực khác, Andrei Zelevinsky, giáo sư toán tại trường đại hoc Northeastern nói: “Các công trình mang tính tiên phong của Gelfand trong một lĩnh vực hết sức trừu tượng là lý thuyết biểu diễn hóa ra lại đóng vai trò quyết định đối với các nhà vật lý làm việc trong lĩnh vực cơ học lượng tử. Các công việc sau này của ông trong một lĩnh vực khác không chỉ trừu tượng mà còn khá lờ mờ, hình học tích phân, ngày nay lại được dùng trong việc chuyển đổi các hình ảnh thô được quét thông qua các máy chụp ảnh cộng hưởng từ hay chụp cắt lớp trong y học, thành các hình ảnh 3 chiều rõ ràng. Công cụ có yếu tố quyết định này đòi hỏi phải có một kiến thức toán học sâu sắc”.
“Ông có lẽ là con người vĩ đại cuối cùng làm việc trong hầu hết mọi lĩnh vực của Toán học”.
Ông cũng là người luôn quan tâm dìu dắt các nhà toán học trẻ, coi họ như học trò hay là những người cộng tác của minh. Nhiều người trong số họ về sau này cũng trở thành các nhà toán học lỗi lạc. Ở trường đại học tổng hợp Moscow, nơi ông dạy học trong nhiều thập kỷ, ông đã điều hành một seminar huyền thoại – Seminar Gelfand – sinh hoạt hàng tuần, ở đó thay vì các báo cáo được mời, được chuẩn bị trước thì nhiều khi đã trở thành những buổi thuyết trình toán “tùy hứng”. Vladimir Retakh, giáo sư toán tại trường Rutgers, nơi Gelfand làm việc kể từ khi sang Mỹ kể: “Đề tài cho một buổi sinh hoạt của Seminar Gelfand thường không được biết trước cho tới tận khi buổi seminar bắt đầu. Thường là qua các trao đổi trước buổi seminar, Gelfand sẽ quyết định chọn một diễn giả “tùy hứng” và một đề tài “tùy hứng”. Các thành viên seminar thường nói đùa rằng người ta không thể biết chắc chắn rằng cái gì sẽ được trình bày ở seminar, nhưng người ta có thể biết chắc chắn điều gì sẽ không được trình bày tại seminar – đó là những báo cáo đã được thông báo trước.”
Đối với diễn giả, đó sẽ là vài tiếng đồng hồ khó khăn, liên tục bị ngắt quãng bới các câu hỏi, bình luận, nhận xét và thậm chí đôi khi là cắt cụt của Gelfand. Ông không phải là người lịch sự, tinh tế trong dối xử. Nhưng đối với diễn giả và cả người tham dự, mỗi buổi seminar Gelfand đều đem lại những cài nhìn hết sức có giá trị vào các ý tưởng mà Gelfand đang nung nấu.
Ông bắt đầu một seminar thứ hai, về sinh học, sau khi Aleksandre, một người con trai của ông bị mắc bệnh bạch cầu. Các nhà sinh vật ở Moscow rất thích tới tham dự, làm báo cáo tại seminar này và được nghe những ý kiến hết sức khác thường tại đây. Aleksandre chịu thua căn bệnh hiểm nghèo, nhưng Gelfand vẫn tiếp tục seminar của ông.
Gelfand sinh ở Ukraina, gần Odessa. Ông không học hết phổ thông và cũng chưa hề bao giờ là sinh viên đại học. Ông lên Moscow vào khoảng năm 16, 17 tuổi và làm nhiều công việc khác nhau. Vốn ham mê toán học, ông vẫn đi dự các seminar và đến năm 19 tuổi ông được nhận thẳng vào làm nghiên cứu sinh tại Mech-Math, trường đại học tổng hợp Moscow dưới sự hướng dẫn của Andrei Kolmogorov. Ông bảo vệ phó tiến sỹ năm 1935 và bảo vệ tiến sỹ khoa học 5 năm sau đó. Ông là viện sỹ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên xô từ năm 1953 và trở thành viện sỹ chính thức năm 1984. Ông tới Mỹ năm 1989 và từ năm 1990 làm giáo sư tai Rutgers, nơi ông đã mở lại seminar của mình với quy mô nhỏ hơn thời kỳ ở Moscow trong vài năm.
Với những đóng góp to lớn của mình cho toán học, ông đã được nhận nhiều giải thưởng lớn: Giải thưởng nhà nước Liên xô 1953, giải thưởng Lenin 1956, giải thưởng Wolf 1978, giải thưởng Kyoto 1989, giải thưởng MacArthur 1994. Năm 2005 ông được nhận giải thưởng Steele dành cho đóng góp suốt đời của Hội Toán học Mỹ. Ông được nhận giải này vì “đã có những ảnh hưởng sâu sắc trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu thông qua các kết quả của ông cũng như thông qua sự cộng tác với các nhà toán học khác, kể cả các sinh viên”.
Gelfand luôn tìm cách dạy không chỉ các quy tắc của toán học mà còn dạy cả vẻ đẹp và sự chính xác của môn khoa học này. Ông thường nói: “Toán học chỉ là một cách suy nghĩ trong cuộc sống hàng ngày. Đừng bao giờ nên tách toán học ra khỏi cuộc sống. Bằng cách đó bạn có thể giảng một cách dễ dàng về phân số cho những kẻ say rượu bét nhè. Nếu bạn hỏi họ 2/3 với 3/5 số nào lớn hơn thì họ sẽ không trả lời được nhưng nếu hỏi họ 2 chai vodka cho 3 người và 3 chai vodka cho 5 người đằng nào có lợi hơn thì họ sẽ trả lời đúng ngay”. (chí lý )
Chỉnh sửa bởi Obay lúc 13-03-2010 19:13
có lẽ Gelfand là một hiện tượng, một hiện tượng hiếm hoi nếu ai cũng như ông không đi học chắc các trường đại học sụp đỗ cả, tuy nhiên phải thừa nhận rằng toán học đến một mức độ nào đó sẽ vượt qua những lề lối cổ điển, không nhất thiết bạn phải đi học 12 năm phổ thông, cũng ko nhất thiết bạn bước vào giảng đường đại học nếu với đam mê và quyết tâm của mình thì vẫn có thể tự mình đọc được các tài liệu toán ở mức tương đối. Trong xã hội ngày nay thì vấn đề bằng cấp có vẻ quan trọng hơn nhiều điều đó cũng là dễ hiểu nhưng tóm lại phải có kiến thực thực sự thì điều đó mới có ý nghĩa. Có lẽ toán học hơn tất cả những môn khác vì tính bướng bính của nó, và tính bướng bỉnh đó có lẽ chỉ có tự học, tự nghiên cứu mới thuần chủng được.
umf viết rằng:
có lẽ Gelfand là một hiện tượng, một hiện tượng hiếm hoi nếu ai cũng như ông không đi học chắc các trường đại học sụp đỗ cả
Gelfand vẫn làm PhD mà. Ông cũng không phải là trường hợp duy nhất không học (xong) đại học, trước khi lấy PhD, chẳng hạn http://en.wikiped...Kontsevich . Cũng có trường hợp chỉ học xong đại học rồi lên làm Prof luôn (không làm PhD), chẳng hạn http://www.imada....~haagerup/ Nhưng tôi không biết ai chưa hề học đại học hay làm PhD mà có đóng góp đáng kể cả.
Tự học có nhiều kiểu, nhưng kiểu "không nhất thiết bạn phải đi học 12 năm phổ thông, cũng ko nhất thiết bạn bước vào giảng đường đại học" thì giống như đi 1 vòng quanh thế giới bằng đi bộ vậy, không hẳn là không đến nhưng chắc là mệt mỏi hơn nhiều so với ngồi máy bay.
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bớm vàng bay
học toán để đủ dùng thui.chứ suôt ngày học thj chẳng làm gì cho đời.quan trọng là phải biêt áp dụng vao thưc tê nêu không thì chỉ là mơ li thuyêt xuông.vô v